Nhưng điểm đặc sắc nhất ở Phan là sớm có tinh thần yêu nước. Từ 9 tuổi Phan đã được sống giữa phong trào Bình Tây sôi nổi nổ ra ở xứ Nghệ. 17 tuổi, được tin Pháp đánh Bắc Kì (1882), Phan đã thảo hịch Bình Tây thu Bắc dán ở cây to đầu làng. 19 tuổi (1885), kinh thành Huế thất thủ, hưởng ứng chiếu Cấn vương của Hàm Nghi, thân hào Nghệ - Tĩnh nổi lên khắp nơi, Phan cũng tổ chức một đội "Thí sinh quân" 60 người để ứng nghĩa, nhưng chưa kịp hành động đã bị đàn áp tan rã.
Trong khoảng 10 năm cuối thế kỉ XIX, Phan Bội Châu vừa làm một thầy đồ dạy học để nuôi cha già vừa tìm đọc thêm "Tan thư, Tân báo” và mở rộng giao du, tìm người đồng tâm, đồng chí chuẩn bị cho công cuộc cứu nước.
Năm 1900, Phan Bội Châu dự kì thi Hương và đỗ thủ khoa (giải nguyên) trường Nghệ, chính thức bước vào cuộc đời hoạt động cách mạng. Cùng các bạn bè đồng chí, Phan thành lập hội Duy tân (1904), chủ trương dùng vũ trang bạo động và nhờ ngoại viện để đánh đuổi giặc Pháp khôi phục nước Việt Nam, lập ra chính phủ độc lập.
Đầu năm 1905, Phan Bội Châu lãnh đạo phong trào Đông Du, từ 1905-1908, ông đã tổ chức cho gần 200 thanh niên yêu nước xuất dương sang Nhật học tập ở các trường Đồng văn thư viện, Chần vũ học hiệu ; lại lập ra Công hiến hội để quản lý việc học tập, tu dưỡng tư tưởng, đạo đức của lưu học sinh. Đồng thời, ông cũng liên lạc với các hội, đảng yêu nước tiến bộ của học sinh và chính khách các nước có mặt ở Tôkiô (Nhật Bản) nhằm trao đổi kinh nghiệm vận động cứu nước, ủng hộ lẫn nhau. Đặc biệt, ông còn sáng tác rất nhiều thơ văn yêu nước như Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Tân Việt Nam, Sùng bái giai nhân, Việt Nam quốc sử khảo v.v..:
Tháng 3-1909, tổ chức Đông Du bị giải tán. Phan Bội Châu bị chính phủ Nhật trục xuất, phải về ẩn náu ở Trung Quốc một thời gian ngắn, rồi sang Thái Lan mở trại cày Bạn Thầm để tính kế lâu dài. Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc thành công, ông trở lại Trung Quốc tập hợp số anh em còn lại, tuyên bố giải tán Duy tân hội, thành lập Việt Nam quang phục hội với tôn chỉ duy nhất : "Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa dân quốc Việt Nam".
Hội cử người về nước hoạt động, đã gây nên một số vụ bạo động vũ trang có tiếng vang, nhưng kẻ thù thẳng tay đàn áp. Phan Bội Châu bị bọn quân phiệt Trung Quốc bắt giam ngày 24-12-1913.
Năm 1917, khi ông ra tù, Chiến tranh thế giới thứ nhất sắp kết thúc, ảnh hưởng Cách mạng tháng Mười Nga và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc sôi nổi khắp thế giới, đặc biệt là ở phương Đông. Ông dần dần nghiêng về cách mạng thế giới, tìm hiểu Cách mạng tháng Mười, viết báo ca ngợi Lênin vĩ đại. Giữa năm 1924, phỏng theo Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn, ông đã cải tổ Việt Nam quang phục hội thành Việt Nam quốc dân đảng. Tháng 12-1924, sau khi được tiếp xúc và được sự góp ý của Nguyễn Ái Quốc, Phan Bội Châu dự định sẽ cải tổ lại Việt Nam quốc dân đảng theo hướng tiến bộ. Nhưng ngày 80-6-1925 trên đường từ Hàng Châu về Quảng Châu để gặp anh em, vừa đến ga Bắc Thượng Hải thì bị thực dân Pháp bắt cóc đem về nước, rồi đem xử ở tòa Đề hình Hà Nội. Một phong trào bãi khóa, bãi công, bãi thị đã bùng nổ rầm rộ khắp cả nước, đòi trả tự do cho Phan Bội Châu. Cuối cùng, thực dân Pháp buộc phải tha bổng ông, nhưng bắt an trí tại Huế.
Từ 1926 trở đi, Phan Bội Châu bị cách li với thực tế đấu tranh của dân tộc. Tuy vậy, ông vẫn cố vươn lên, hi vọng tiếp tục hoạt động cứu nước và trong điều kiện sống bị bao vây theo dõi vẫn cố gắng làm một người tuyên truyền yêu nước. Thơ văn của ông vẫn tiếp tục nói nhiều đến nỗi khổ nhục của người dân mất nước và trách nhiệm của người dân đối với nước. Đó là các tác phẩm : Nam, nữ quốc dân tu tri, Thuốc chữa dân nghèo, Cao đẳng quốc dân, Luân lí vẫn đáp, Lời hỏi thanh niên... Đó cũng là các công trình biên khảo có giá trị : Phan Bội Châu niên biểu, Xã hội chủ nghĩa, Nhân sinh triết học, Khổng học đăng, Chu dịch v.v... cùng với trên 800 bài thơ, phú, văn tế và rất nhiều câu đối và tạp văn khác để lại đã làm phong phú kho tàng thơ văn yêu nước và cách mạng Việt Nam thời cận đại.
Những năm tháng cuối đời, nhà chí sĩ Phan Bội Châu vẫn chan chứa biết bao nỗi niềm ưu ái, hi vọng tin tưởng vào đôgng bào, đồng chí. Cho đến trước khi mất ngày 29-10-1940, tại căn nhà tranh ở dốc Bến Ngự (Huế), ông vẫn có lời ,,Chúc phường hậu tứ tiến mau !". .
Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam